Mạng tinh thể là gì?

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản không thiếu của tài liệu tại đây ( 804.94 KB, 64 trang )


c- Mạng tinh thể :Tập hợp vô số mặt mạng tạo thành một hình thể trong không gian gọi là

mặt mạng ( hình 1- 3c)

d- Ô cơ bản: Khi nghiên cứu mạng tinh thể để đơn giản người ta chỉ nghiên cứu một phần

rất nhỏ của mạng đặc trưng cho một kiểu mạng, gọi là ô cơ bản (hình 1- 3d)

+ Các kích thước để biểu diễn đầy đủ cho một ô cơ bản gọi là các thông số mạng (a,b,c)

+ Đơn vị đo các thông số mạng bằng Angtron (A0 ). 1A0= 10 – 8 cm



(a)



(b)



b



a



c



(d)



(c)



Hình 1-3

I-2-2. Các kiểu mạng tinh thể lý tưởng thường gặp

Trong kim loại thường gặp các kiểu sắp xếp như sau :

a- Mạng lập phương thế tâm ( LPTT)

Trong ô cơ bản các nguyên tử ( ion+) nằm ở đỉnh và tâm khối hình lập phương ( Hình 1- 4). Kiểu

mạng này thường gặp ở các nguyên tố Feα, Cr, Mo, W,V….

b – Mạng lập phương diện tâm ( LPDT)

Trong ô cơ bản các nguyên tử (ion+) nằm ở đỉnh và tâm các mặt bao quanh khối hình lập phương

( Hình 1- 5)

Kiểu mạng này thường gặp ở các nguyên tố: Feγ, Ni, Cu, Al, Pb….

c- Mạng lục giác xếp chặt ( LGXC)

Trong ô cơ bản các nguyên tử (ion) nằm ỏ đỉnh, 2 nguyên tử nằm ở tâm hai đáy của khối lăng trụ

lục giác, ba nguyên tử nằm ở trung tâm của ba khối hình lăng trụ tam giác cách đều nhau. Có 2

thông số mạng a và c (hình 1- 6). Các nguyên tử sắp xếp sít chặt khi tỷ số c/a = 1,57-1,64.



9



c



a

Hình 1 – 4



a



a



Hình 1 – 5



Hình 1 – 6



Chúng ta có thể coi các nguyên tử kim loại là những quả cầu thì dù chúng nhỏ đến mấy và

sắp xếp bắng kiểu gì cũng có lỗ hổng. Mật độ khối là khái niệm để đánh giá độ sít chặt của các

nguyên tử trong ô cơ bản.

• Mật độ khối : Mật độ nguyên tử của mạng, là phần thể tích tính ra phần trăm của mạng do

nguyên tử chiếm chỗ, được xác định bằng công thức:

Mv =

Trong đó:



nv.100%

V



– Mv là mật độ khối (%)

– n số nguyên tử trong ô cơ bản

– v thể tích nguyên tử



– V Thể tích ô cơ bản

II-2-3. Mạng tinh thể thực tế

Thực tế có một số nguyên tử sắp xếp không đúng vị trí quy định gây ra sai lệch mạng tinh thể. Sự

sai lệch chiếm tỷ lệ thấp khoảng 10-1- 10-4, nhưng có một ý nghĩa, vai trò rất lớn đối với một số kim

loại khi nghiên cứu và ứng dụng nó. Tuỳ theo kích thước và kiểu sai lệch ta có sai lệch điểm sai lệch

đường và sai lệch mặt.

– Sai lệch điểm là dạng sai lệch có kích thước nhỏ theo cả ba chiều đo ( cở 1-2 thông số mạng) bao

quanh một điểm theo dạng hình cầu. Đó là nút trống, nguyên tử xen kẽ, tạp chất…

– Sai lệch đường là dạng sai có kích thước nhỏ theo hai chiều đo cở 1-2 thông số mạng và

lớn theo chiều đo còn lại cở hàng ngàn, hàng vạn thông số mạng theo đường thẳng hoặc đường

cong. Đó là một dãy nút trống hoặc một dãy nguyên tử xen kẽ.

– Sai lệch mặt là dạng sai lệch có kích thước nhỏ theo một chiều đo và lớn theo chiều đo còn

lại theo một phẳng hoặc một mặt cong

Kim loại nguyên chất có cơ tính như : độ bền, độ cứng thấp, vì vậy trong ngành cơ khí ít khi

sử dụng mà chủ yếu ở dạng hợp kim.

10



II. Cấu tạo của hợp kim

II-1. Khái niệm về hợp kim

a- Định nghĩa:

Hợp kim là sản phẩm của hai hay nhiều nguyên tố tạo tinh thể và có tính chất kim loại.

Thành phần của các nguyên tố biểu thị bằng % trọng lượng. Nguyên tố chủ yếu trong hợp

kim là kim loại.

b – Phương pháp chế tạo

Hợp kim được chế tạo bằng phương pháp nấu chảy, thiêu kết và điện phân.

c- So sánh giữa kim loại và hợp kim

– Giống nhau : Kim loại và hợp kim đều có tính chất kim loại như : dẫn điện,

dẫn nhiệt, tính dẻo song chúng khác nhau về mức độ.

– Khác nhau : Kim loại cấu tạo bằng một loại nguyên tử, có một kiểu mạng tinh thể xác định và

thành phần hoá học đồng nhất. Hợp kim cấu tạo bằng nhiều loại nguyên tử của các nguyên tố khác nhau,

chúng tác dụng hoá học lẫn nhau tạo thành các tổ chức, các pha ( pha là vùng nhỏ tổ chức) đồng nhất về

thành phần hoá học và có kiểu mạng, tính chất xác định.

II-2. Các dạng cấu tạo của hợp kim

a- Dung dịch rắn ( hay gọi dung dịch đặc)

Là một pha tinh thể có thành phần thay đổi, trong đó nguyên tố thứ nhất A vẫn giữ nguyên

kiểu mạng, khi nguyên tố thứ hai B được phân bố vào mạng của nguyên tố A. Vì vậy nguyên tố A

gọi là nguyên tố ( chất ) dung môi, nguyên tố B ( chất ) nguyên tố hoà tan.

• Ký hiệu của dung dịch rắn :





A (B) trong đó A là nguyên tố dung môi, B nguyên tố hoà tan







Hoặc ký hiệu bằng chữ Hy Lạp : α, β, δ v. v



Tuỳ theo cách phân bổ các nguyên tử hoà tan trong mạng tinh thể dung môi chúng ta chia

dung dịch rắn làm hai loại :

– Dung dịch rắn thay thế :

Các nguyên tử của nguyên tố hoà tan thay thế cho các nguyên tử dung môi ở nút mạng

( Hình 1- 7)

Điều kiện để tạo thành dung dịch rắn thay thế là : Tính chất và đường kính nguyên tử của

nguyên tố hoà tan và nguyên tố dung môi không khác nhau nhiều.

Dung dich rắn thay thế có thể hoà tan có hạn hoặc vô hạn. Hoà tan có hạn có nghĩa là hoà

tan với tỷ lệ nào đó. Hoà tan vô hạn có nghĩa là hoà tan với tỷ lệ bất kỳ, khi nguyên tử của nguyên tố

11



hoà tan thay thế một nút, hai nút, hoặc nhiều nút mạng. Lúc đó chất hoà tan và chất dung môi chỉ có

tính chất tương đối mà thôi : A (B)



B (A)



– Dung dịch rắn xen kẽ:

Các nguyên tử của nguyên tố hoà tan xen vào khoảng trống cùa mạng nguyên tố dung môi

( Hình 1- 8)

Thường xẩy ra ở nhóm kim loại chuyển tiếp ( Fe, Mn, W…) với các â kim ( C, N2, H2…)

Điều kiện để tạo thành dung dịch rắn hoà tan xen kẽ là :

Tốt nhất là: dht
Mạng lập phương diện tâm : d ht / ddm= 0,41;

Mạng lục giác xếp chặt : d ht / ddm= 0,21

Trong đó :

– dht : là đường kính nguyên tử của chất hoà tan;

– ddm là đường kính nguyên tử của chất dung môi;

– Ktlỗ hổng là kích thước lỗ hổng của mạng dung môi.

Do lỗ hổng của mạng dung môi có hạn và cho dù các nguyên tử hoà tan chiếm hết các lỗ hổng cũng

không tạo thanhf dung dịch rắn hoà tan vô hạn. Thường dung dịch rằn xen kẽ có độ hoà tan thấp.

Nguyên tử

Thay thế



Hình 1-7



Nguyên tử

xen kẽ



Hình 1- 8



• Đặc điểm và tính chất của dung dịch rắn

– Có liên kết giống như kim loại nguyên chất nên có tính dẻo cao, tuy không bằng kim loại

nguyên chất.

– Thành phần hoá học thay đổi trong phạm vi nhất định, có kiểu mạng là kiểumạng của dung

môi.





Khi nồng độ chất hoà tan càng nhiều, càng làm xô lệch mạng, độ bền, độ cứng,



điện trở suất tăng, độ dẻo giảm nhưng bản chất của chúng là pha dẻo, có khả năng biến dạng được

ở trạng thái nóng. Cho nên dung dịch rắn là pha cơ sở cho việc gia công nóng như : cán kéo, rèn,

nhiệt luyện.

b – Hợp chất hoá học

Trong hợp kim ngoài dung dịch rắn các pha phức tạp còn lại gọi là pha trung gian. Pha trung gian

có rất nhiều loại, hợp chất hoá học là loại thường gặp nhất, chúng có những đặc điểm sau:





Cấu tạo mạng tinh thể của hợp chất hoá học khác với mạng tinh thể kim loại

12



Xem thêm: UXSTYLE CORE BETA LÀ GÌ

Source: https://lava.com.vn
Category: Hỏi Đáp